View Full Version: hệ keo!!! trong hóa keo

DIỂN ĐÀN CHÍNH_MỘC VÂN TRANG > KIẾN THỨC HÓA LƯ > hệ keo!!! trong hóa keo


Title: hệ keo!!! trong hóa keo


gacon9x - December 11, 2009 10:53 AM (GMT)

:blink:

Cách phân loại trạng thái của chất và môi trường phân tán nhiều khi không phản ánh được thuộc tính của hệ , cho nên thông thường người ta phân loại hệ phân tán dựa vào kích thước hạt phân tán ,v́ những hệ có kích thước giống nhau thường thể hiện những tính chất đặc trưng tương tự nhau ( như tốc độ khuếch tán , cường độ tán xạ ánh sáng , chuyển động Brown …..). Theo cách phân loại này, người ta thường chia hệ phân tán thành ba loại : hệ phân tán thô, hệ keo và dung dịch thực.

II.1: Hệ Keo Là Ǵ?

Hệ keo c̣n được gọi là hệ phân tán cao , là một hệ thống có hai thể của vật chất, một dạng hỗn hợp ở giữa những hỗn hợp đồng nhất và hỗn hợp không đồng nhất .Kích thước hạt 10-7 – 10-5 cm .
ví dụ : bơ, sữa, kem sữa, sương mù, khói sương, khói xe, mực, sơn bọt biển….

II.2: Các Tính Chất Của Hệ Keo:

II.2.1: Tính chất quang học của hệ phân tán :
II.2.1.1: Sự phân tán ánh sáng của hệ keo:
Khi chiếu một chùm sáng vào một dung dịch keo trong suốt để trong bóng th́ thấy một dải sáng sáng mờ đục dạng h́nh nón xuất hiện ở phần dung dịch có ánh sáng đi qua. Hiện tượng đó c̣n được gọi là hiệu ứng Tyndall hay h́nh nón Tyndall.
Ta có thể quan sát hiện tượng tương tự khi có một chùm ánh sáng hẹp chiếu vào đêm tối ( trong rạp chiếu phim ) hoặc khi có đèn pha chiếu lên bầu trời vào ban đêm. Hiện tượng này quan sát đặc biệt rơ khi không khí có hơi nước hoặc chứa bụi.V́ khi đó không khí - bụi tao thành một hệ keo và có khả năng phân tán ánh sáng.
Như ta thấy trên thực tế, tính chất quang học của hệ phân tán phụ thuộc vào kích thước hạt. Ánh sáng nh́n thấy có bước sóng khoảng 4000A0 – 7000A0 .
Hệ phân tán có kích thước hạt lớn hơn bước sóng phản xạ ánh sáng làm cho hệ có màu đục. Hệ heo có kích thước hạt nhỏ hơn bước sóng, nên có khả năng phân tán ánh sáng. Do đó, sự nhiễu xạ ánh sáng bởi các hạt làm cho mỗi hạt trở thành một điểm phát sáng về mọi hướng. Đối với hệ keo có các hạt phân tán kích thước nhỏ hơn nhiều so với bước sóng ánh sáng, th́ cường độ ánh sáng phân tán theo phương tới là lớn nhất và theo phương vuông góc với phương tới là nhỏ nhất.
Đặc điểm của ánh sáng phân tán bởi hệ keo là nó bị phân cực.Theo phương tới ánh sáng phân tán hầu như không bị phân cực, trong khi đó, theo phương vuông góc với phương tới th́ ánh sáng phân tán hầu như bị phân cực hoàn toàn.
Ta có thể rút ra một số kết luận như sau : [Tr 77,2]
 Hạt keo có kích thước càng lớn (V càng lớn ) tán xạ càng mạnh.
 Nồng độ hạt càng lớn, ánh sáng bị tán xạ càng mạnh.
 Ánh sáng tới có bước sóng càng ngắn càng bị tán xạ mạnh khi chiếu vào hệ keo.
Như vậy, nếu chiếu chùm ánh sáng trắng vào hệ keo th́ ánh sáng đỏ bị tán xạ yếu nhất, trái lại ánh sáng xanh và tím bị tán xạ mạnh nhất khi mọi điều kiện khác của hệ keo như nhau.
II.2.2.2: Sự hấp thụ ánh sáng của hệ keo: [Tr 75,76,1]
Nói chung, các hệ phân tán bao gồm các dung dịch thực, dung dịch keo, hệ phân tán thô nếu có màu và không trong suốt th́ đều có khả năng hấp thụ ánh sáng ở những mức độ khác nhau.
Màu sắc của dung dịch keo phụ thuộc vào nhiều yếu tố: bản chất của chất phân tán và môi trường phân tán, nồng độ, h́nh dạng hạt, bước sóng ánh sáng, góc nh́n…..Ánh sáng trắng là tập hợp của nhiều áng sáng đơn sắc với bước sóng khác nhau. Do sự phân tán và hấp thụ ánh sáng của hệ keo mà ánh sáng tới mắt chúng ta sẽ có sự trội hơn của áng sáng màu đó, nghĩa là hệ keo có màu sắc.
ví dụ: hồng ngọc(màu đỏ) hay bích ngọc(màu xanh)…. là những hệ keo có màu sắc.….dung dịch asen sufua với bề dày 1cm , thậm chí với nồng độ rất nhỏ (một phần As2S3 trong 8.105 phần nước ) có màu vàng, dung dịch keo vàng kim loại với nồng độ nhỏ (một phần Au trong 108 phần nước ) có màu đỏ.
Nh́n chung, màu sắc của sol kim loại có màu sắc rất phức tạp. Nguyên nhân là do sol kim loại vừa hấp thụ mạnh ánh sáng lại vừa phân tán ánh sáng.
II.2.2: Tính chất động học theo phân tử của hệ keo:
II.2.2.1: Chuyển động Brown : [Tr 75,1]
Chuyển động Brown là chuyển động nhiệt của của các hạt pha phân tán trong hệ keo cũng như các hệ vi dị thể.
Chuyển động Brown diễn ra không ngừng , không phụ thuộc vào các nguồn sáng năng lượng bên ngoài và chuyển động càng mạnh khi nhiệt độ càng cao.
chuyển động Brown được phát hiện ra vào năm 1827, do nhà sinh học người Anh Robert Brown nhưng lúc đó chưa có sự giải thích thoả đáng. Măi đến năm 1888 – 1900 Gouy( Guy) và Exner (Exnơ) mới đưa ra lời giải đáp trên cơ sở thuyết chuyển động Brown là kết quả chuyển động nhiệt. Các phân tử của môi trường phân tán trong chuyển động nhiệt va chạm với csc hạt keo một cách hỗn độn làm cho các hạt keo chuyển động. Nếu các hạt keo có kích thước đủ nhỏ th́ các va chạm không đồng đều từ các hướng khác nhau của các phân tử môi trường, làm cho hạt nhận được các xung lực khác nhau và chuyển động theo một quỹ đạo xác định. Khi kích thước và khối lượng hạt lớn làm tăng quán tính, xác suất triệt tiêu các va chạm tăng dần đến khi làm cho cac hạt chỉ dao động quanh vị trí cân bằng hoặc đứng yên (không có chuyển động Brown). Các hạt keo nhận được một số va chạm cực lớn từ các phân tử môi trường nên nó thay đổi hướng và tốc độ liên tục tới 1020 lần trong một giây.
V́ vậy, ta không thể xác định được đường đi thực của hạt keo, nhưng dễ dàng xác định được khoảng cách trung b́nh mà hạt di chuyển được trong một đơn vị thời gian. Dưới kính hiển vi hoặc siêu hiển vi ta có thể đánh dấu được vị trí của hạt trong những khoảng thời gian bằng nhau.
II.2.2.2: Sự khuyếch tán trong dung dịch keo : [Tr89,92,2]
Sự khuyếch tán là một quá tŕnh tự diễn biến để san bằng nồng độ của chất phân tán vào môi trường phân tán.
Khuyếch tán là một tính chất đặc trưng của các hệ phân tán. Tốc độ khuyếch tán của các hạt keo nhỏ hơn nhiều so với tốc độ khuyếch tán của phân tử hoặc iôn, v́ kích thước hạt keo lớn hơn nhiều so với phân tử hoặc iôn.
Nguyên nhân chủ yếu của sự khuyếch tán là sự chuyển động nhiệt của các phân tử chất phân tán và môi trường phân tán.
Chúng ta biết rằng sự chuyển động nhiệt là sự chuyển động hỗn loạn, đa hướng, không ưu tiên hướng nào trong không gian. Mặt khác, xét về mặt động nhiệt học của quá tŕnh trộn lẫn các chất để đạt được xen lẫn tối đa, đồng đều ở mọi điểm là quá tŕnh tự diễn biến.
Năm 1885 Nernst cho rằng sự khuyếch tán xảy ra do áp suất thẩm thấu, các phân tử có xu hướng chuyển từ nơi có áp suất thẩm thấu lớn (nơi có nồng độ lớn) đến nơi có áp suẩt thẩm thấu nhỏ hơn ( nơi có nồng độ nhỏ hơn).
Dựa trên những quan điểm đó, đồng thời cho rằng sự chuyển động khối (trong quá trính khuyếch tán ) cũng tương tự như sự truyền nhiệt hay truyền điện.
II.2.2.3: Áp suất thẩm thấu của dung dịch keo: [Tr 95,96,1]
Thẩm thấu là sự khuếch tán một chiều của các phân tử dung môi qua màng bán thấm theo chiều hướng làm giảm nồng độ dung dịch.
Nói một cách rộng hơn th́ sự thẩm thấu là sự khuyếch tán và dung môi đưa đến sự san bằng nồng độ trong toàn bộ thể tích của hệ.
Áp suất thẩm thấu của dung dịch keo chỉ phụ thuộc vào số hạt chứ không phụ thuộc vào bản chất và kích thước hạt keo. Điều này giải thích v́ sao áp suất thẩm thấu của dung dịch keo, lại nhỏ hơn nhiều áp suất so với áp suất thẩm thấu của dung dịch thực có cùng nồng độ khối lượng.
Ví dụ: áp suất thẩm thấu của sol vàng kim loại 1% với hạt có kích thước 0.01micromet, nhỏ hơn 20 lần so với áp suất thẩm thấu của dung dịch đường mía 1% ở cùng điều kiện.
Dung dịch keo lỏng kém bền, kích thước của hạt luôn thay đổi. Đặc biệt khi chịu ảnh hưởng tác động của các yếu tố bên ngoài, các hạt keo có thể kết lại thành hạt lớn hơn hoặc tách ra thành các hạt nhỏ hơn. Điều đó làm cho các nồng độ hạt của dung dịch keo thay đổi và do đó áp suất thẩm thấu cũng thay đổi.
II.2.2.4: Sự sa lắng trong hệ keo : [Tr 94,95,97,2]
Khi xem xét sự khuếch tán, chúng ta đă bỏ qua lực hút của trái đất đối với các hạt phân tán. Thực ra các hạt phân tán có kích thước đủ lớn như hạt phân tán thô th́ không thể bỏ qua trọng lực được, v́ chúng dễ dàng bị lắng đọng xuống đáy b́nh, gọi là sự sa lắng. Trái lại đối với dung dịch thực, các phân tử hoặc iôn có kích thước bé th́ sự chuyển động nhiệt lớn, ảnh hưởng của trọng lực trở lên không đáng kể, nghĩa là không có sự sa lắng các phân tử chất tan, người ta nói các phân tử như vậy có độ bền động học (không bị sa lắng ). Dung dịch keo chiếm vị trí trung gian giữa hệ phân tán thô và dung dịch thực. Các hạt keo vừa chịu sự ảnh hưởng của chuyển động nhiệt ( gây nên sự khuếch tán) vừa chịu ảnh hưởng của trọng lực nên có thể phân bố lơ lửng ở những độ cao nào đó trong dung dịch tuỳ thuộc vào độ lớn của các lực đó.
Trong thực tế, trong một hệ (đặc biệt là hệ keo và hệ phân tán thô) kích thước các hạt khác nhau phân bố trong hệ (gọi là hệ đa phân tán ) th́ sự khuếch tán và sự sa lắng xảy ra phức tạp hơn nhiều, nghĩa là ở các chiều cao khác nhau sẽ có những hạt kích thước khác nhau phân bố trong hệ, trên cao là các hạt bé hơn, càng xuống thấp kích thước hạt càng lớn.

II.2.3: Tính chất điện của các hệ keo :
II.2.3.1: Một số hiện tượng điện trong hệ keo: [Tr 82,2 ]
Hiện tượng điện di ( hay hiện tượng điện chuyển ) là hiện tượng các hạt rắn di chuyển trong môi trường lỏng, dưới tác dụng của điện trường.
Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng sự điện đi xảy ra càng mạnh khi :
 Hiệu điện thế càng lớn.
 Hàng số điện môi càng cao.
 Độ nhớt của chất lỏng càng bé.
Hiện tượng điện thẩm ( hay hiện tượng điện thẩm thấu ) là sự di chuyển của pha lỏng tương đối so với pha rắn dưới tác dụng của điện trường.
Nguyên nhân chủ yếu của hai hiện tượng trên là do hai pha tiếp xúc (lỏng và rắn) tiếp xúc trái dấu.
Hiệu ứng Dorn : là hiện tượng ḍng điện xuất hiện khi các hạt pha rắn chuyển động so với chất lỏng đứng yên. Hiện tượng này ngược với hiện tượng điện đi.
Hiệu ứng này được Dorn phát hiện vào năm 1878.
Hiệu điện thế giữa hai điện cực này là : thế sa lắng.
Hiện tượng thế chảy : năm 1859 Winke phát hiện ra hiện tượng ngược với hiện tượng điện thẩm. Ông nhân thấy khi cho ḍng nước chảy xuyên qua một lớp cát thạch anh mà phía trước và sau vách ngăn có ngắn 2 điện cực và kim điện kế bị lệch. Chứng tỏ sự chuyển động của pha lỏng với pha rắn làm xuất hiện ḍng điện.
 Điện thế đo được trong trường hợp này gọi là : thế chảy.
 Hiện tượng này ngược với hiện tượng điện thẩm.

Ứng Dụng : [Tr 114,1]
- Áp dụng hiện tượng điện di có thể tách được các thành phần của những hỗn hợp phức tạp như cá protit tự nhiên và các chất điện ly cao phân tử.
- Dùng phương pháp điện di phủ lên bề mặt vật liệu dẫn điện một lớp mỏng các hạt keo có độ đồng nhất cao với bề dày cần thiết.
- Điện di c̣n được áp dụng để phủ cao su lên bề mặt kim loại.
- Điện thẩm được ứng dụng trong việc làm khô các vật liệu xốp và lọc tách các lớp kết tủa……

II.2.4: Độ bền và sự keo tụ:
Như chúng ta đă biết các hệ keo là những hệ dị thể. Về mặt nhiệt động th́ chúng là những hệ không cân bằng và có độ bền tập hợp kém. Những quá tŕnh tự diễn biến trong hệ keo nhằm làm giảm năng lượng tự do bề mặt, có thể là sự hấp phụ các chất hoạt động bề mặt bên bề mặt hạt keo hoặc là sự keo tụ. Tức là các hạt keo nhỏ liên kết với nhau tạo thành những hạt keo lớn.
Độ bền và sự keo tụ của các hệ keo có ư nghĩa to lớn trong địa chất học, thổ dưỡng học, sinh học và trong kỹ thuật.
II.2.4.1: Độ bền của hệ keo : [Tr 115,116,1]
Mỗi hệ keo có độ bền đặc trưng phụ thuộc bản chất của nó và điều kiện bên ngoài. Chúng ta cần phân biệt : Độ bền tập hợp.
Độ bền động học.
Độ bền tập hợp ( độ bền nhiệt động) : được xác định bởi bộ phận phân tán mà khi đó các hệ keo có khả năng chống lại sự keo tụ.
Độ bền động học được xác định bởi chuyển động nhiệt của các hạt.
Thực chất độ bền của hệ keo phụ thuộc vào tương tác giữa các hạt keo.
Đối với các hệ keo, chúng ta quan tâm đặc biệt tới tương tác giữa các bề mặt với nhau bởi một lớp chất lỏng. Trong hệ, ngoài lực hút phân tử c̣n có lực tương tác tĩnh điện giữa các Mixen keo. Có thể coi tương tác giữa các mixen lúc này như tương tác giữa bề mặt tích điện với một thế nào đó ở trong môi trường có hằng số điện môi.
trong trường hợp các bề mặt hạt keo tích điện trái dấu th́ lực hút sẽ tồn tại với mọi khoảng cách giữa các bề mặt.
Trong trường hợp chung thế năng tương tác sẽ là tổng của hai thành phần: hút và đẩy đối với hệ keo ghét lưu, khi không có tương tác mạnh giữa các hạt keo với môi trường phân tán. Kết quả tổng hợp này quyết định đến độ bền của hệ keo ghét lưu. Đối với hệ keo ưa lưu, c̣n phải kể đến thành phần thứ ba, đó là tương tác giũa pha phân tán và môi trường. Trong trường hợp này, độ bền của các hệ keo c̣n được đảm bảo bởi lớp solvat hoá từ những phân tử môi trường có khả năng chống lại sự đông tụ của các hạt keo.
Trong nhiềi trường hợp như các bọt, các nhũ tương độ bền của hệ phân tán tăng mạnh khi trên bề mặt phân chia pha có một lớp phân chất làm bền có độ nhớt cấu thể lớn. Theo Rohbinder, Simbar, Eirich…..tính chất bền vững của hệ phân tán có được là nhờ lớp hấp phụ định hướng các phân tử chất hoạt động bề mặt tạo thành những cấu thể hai chiều có khả năng ngăn cản sự dính kết. Tính bền vững của hệ phân tán cũng có thể do các phân tử chất hoạt động bề mặt, hoặc là chất cao phân tử có đuôi dài và linh động chỉ bị hấp phụ trên bề mặt bằng các mắt xích riêng biệt, c̣n đuôi của mặt cacbon nằm trong môi trường có thể thực hiện chuyển động Brown, tạo hệ ổn định.
II.2.4.2: Sự keo tụ trong các hệ keo : [Tr 117,123,1]
F.Selmi, Th.Graham và I.Borshov đă chỉ ra rằng tất cả các chất điện ly đều có khả năng gây ra sự keo tụ ngay cả các chất điện ly là chất làm bền cho hệ keo.
Hardy chỉ ra rằng : không phải tất cả các iôn của chất điện ly, mà chỉ những iôn cùng dấu với các iôn nghịch, nghĩa là ngược dấu với các iôn quyết định thế, mới có khả năng gây keo tụ cho các hệ keo. Như vậy, các các cation gây keo tụ các dinh dưỡng keo có hạt keo âm và các anion gây keo tụ các dung dịch keo có hạt keo dương.
Người ta c̣n đưa ra một đại luợng gọi là ngưỡng keo tụ để đánh giá khả năng gây keo tụ của các chất điện ly đối với một dung dịch keo cho trước.
Sự keo tụ được nhận biết qua các dấu hiệu như : sự đổi màu, sự xuất hiện vẩn đục. Ngưỡng keo tụ càng thấp th́ khả năng gây keo tụ càng lớn.
Khi trong hệ, mỗi va chạm của hạt trong chuyển động Braxin đều đưa đến sự dính kết gọi là : sự keo tụ nhanh, c̣n khi chỉ có một phần trong số va chạm đều dẫn đến sự dính kết gọi là sự keo tụ chậm.
Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều yếu tố thuần tuư vật lư cũng gây ra sự keo tụ cuả các hệ thống keo đó là: Thời gian, tác động cơ học, sự đun nóng hoặc làm lạnh, tia tử ngoại, tia Roentgen, siêu âm, điện trường... Một số trường hợp keo tụ quan trọng :
Sự keo tụ tự phát. Khi để lâu một hệ keo, do trong hệ có phản ứng xảy ra chậm hoặc do va chạm có hiệu quả của hạt keo dẫn đến hệ bị phá vỡ. Ví dụ, độ bền của keo thuỷ ngân sunfua giảm nhanh khi để dung dịch trong b́nh mở, khí hiđro sunfua ( chất làm bền ) thoát ra khỏi dung dịch. V́ vậy, khi để lâu dung dịch này cần được đổ đầy b́nh.

Sự keo tụ do có tác động cơ học nhờ khuấy trộn mạnh hoặc vận chuyển các dung dịch keo qua đường ống. Nguyên nhân dẫn đến sự keo tụ là cân bằng hấp phụ của chất là: bền bị phá vỡ. Sự keo tụ của có thể xảy ra khi để hệ keo nơi có sự rung động hoặc siêu âm. Ví dụ, trong xử lư bằng tác động rung các cấu kiện bê tông lúc đầu có sự phá vỡ các cấu trúc keo làm tăng sự chảy của hỗn hợp, tạo thuận lợi cho sự lắp đầy các cấu kiện.
Sự keo tụ có thể xảy ra dưới tác dụng của điện trường. Tác dụng của điện trường được áp dụng để tách nước khỏi các nhũ tương dầu mỏ, tách tạp chất khỏi dầu khoáng.
Sự keo tụ c̣n xảy ra khi pha loăng hoặc cô đặc dung dịch keo. Khi pha loăng dung dịch keo trong nước, các hạt keo bị khử hấp phụ chất điện ly làm bền, dẫn đến làm giảm điện tích hạt keo. Khi cô đặc dung dịch keo, nồng độ hạt keo, nồng độ chất điện ly và nồng độ iôn đôi tăng dẫn đến làm giảm độ bền của hạt keo.
Sự keo tụ cũng có thể xảy ra khi đun nóng hoặc làm lạnh dung dịch keo. Khi đun nóng, chất làm bền bị khử làm hấp phụ, chuyển động Brown tăng làm cho các hạt keo có cơ liên kết với nhau. Khi làm giảm nhiệt độ của hệ keo, độ tan của các chất giảm tạo ra sự hoá bảo hoà và dẫn đến sự keo tụ.

II.2.5: Tính Chất Cơ Học Cấu Thể Của Hệ Phân Tán: [Tr124-128,1 ]
Cũng như các vật thể khác, các hệ keo có những tính chất nhất định như: tính nhớt, trong một số trường hợp có tính dẻo, tính đàn hồi, tính vững chắc. Các tính chất này gắn liền với cấu tạo của các hệ đó. Cho nên thường được gọi là tính chất cơ học cấu thể.
Các cấu thể trong hệ keo được chia thành cấu thể keo tụ và cấu thể ngưng tụ kết tinh.
II.2.5.1: Cấu thể keo tụ:
Cấu thể keo tụ thường xuất hiện khi độ bền vững tập hợp của hệ giảm. Nếu các yếu tố bền vững chỉ bị mất đi ở một phần nào đó của hạt th́ các hạt đó sẽ dính kết với nhau ở những chỗ đó tạo thành mạng lưới không gian chứa môi trường phân tán ở những mắt lưới gọi là gel.
Sự có mặt của lớp dung môi giữa các hạt làm cho cấu trúc có độ bền thấp, nhưng cũng chính v́ lẽ đó làm cho các cấu trúc có tính dẻo, thậm chí tính đàn hồi.
Sự tạo gel phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Khi nồng độ hạt tăng, tốc độ tạo gel tăng, độ bền của gel cũng tăng. H́nh dạng hạt keo có ảnh hưởng đến sự tạo gel, các hạt keo có đầu mút, có góc, cạnh dễ tạo gel ngay cả khi nồng độ pha phân tán nhỏ. Nhiệt độ cũng làm tăng tốc độ tạo gel. Tuy nhiên khi nhiệt độ tăng nhiều, cường độ chuyển động Brown tăng làm cho gel trở thành chất lỏng cấu thể ( trạng thái lỏng nhưng vẫn có cấu trúc không gian). Nếu tiếp tục tăng nhiệt độ cao hơn nữa th́ gel thậm trí chất lỏng không cấu thể (không c̣n cấu trúc không gian nữa). Các tác động cơ học thường cản trở sự tạo gel và phá vỡ các cấu thể.
Một tính chất đặc biệt của các cấu thể keo tụ là tính sol- gel thuận nghịch (c̣n gọi là tính xúc biến). Đó là khả năng của các cấu thể sau khi bị phá vỡ v́ một lực cơ học nào đó có khả năng tự phục hồi sau một thời gian. Hiện tựng này thường gặp trong tự nhiên. Ví dụ: một số đất sét, chất nguyên sinh trong các tế bào ….Tính xúc biến của các hệ phân tán thường được áp dụng trong kỹ thuật. Ví dụ: nhờ có tính sol-gel thuận nghịch trong đất sét mà người ta có thể pḥng ngừa được sự sa lắng của các hạt đất đá trong các lỗ khoan. Do đó, trong khi khoan người ta thường dùng dung dịch đất sét đẻ tránh sự kẹt tắc thiết bị khoan do nguyên nhân sa lắng mùn khoan gây ra.
Các cấu thể keo tụ c̣n có tính chất co ngót (sự teo), đó là khả năng tự giảm kích thước của gel do làm thoáng dung môi ra khỏi mắt lưới không gian.
Ngược lại, các hệ keo tụ đă bị teo, khi tiếp xúc lại với dung môi th́ lại trương nở ra. Hiên tượng này gọi là sự trương nở.
II.2.5.2: Cấu thể nhưng tụ kết tinh:
Những cấu thể ngưng tụ kết tinh được h́nh thành khi các hạt liên kết với nhau bằng lục hoá học. Các cấu thể tạo thành do các liên kết hóa học bền vững gọi là cấu thể ngưng tụ, c̣n các cấu thể tạo thành do sự ghép các tinh thể trong quá tŕnh kết tinh pha mới gọi là cấu thể kết tinh.
Độ bền của cấu thể này thường lớn hơn nhiều so với độ bền của cấu thể keo tụ. Các hệ với cấu thể ngưng tụ kết tinh không thể co ngót và trương nở đáng kể như hệ cấu thể keo tụ.
Cấu thể ngưng tụ kết tinh là những cấu thể bất thuận nghịch. Khi chúng bị khá vỡ th́ không có khả năng tự hồi phục. Trong khi đó, các cấu thể keo tụ th́ lại có tính thuận nghịch.
II.2.5.3: Độ nhớt của các hệ keo:
Do dung dịch keo có các phần tử lơ lửng với kích thước lớn hơn nhiều do với kích thước phân tử thông thường. Nên hệ keo có vận tốc chảy tăng, sự chảy ḍng chuyển sang chảy cuộn sớm hơn.
Mặt khác, hạt keo làm giảm khoản không gian của chất lỏng cho nên độ nhớt của dung dịch keo bao giờ cũng lớn hơn của dung dịch phân tán.





* Hosted for free by InvisionFree