View Full Version: LUAT SO SANH<phan1>

Sinhviendl > Tài liệu trên mạng - Báo chí - Thông tin > LUAT SO SANH<phan1>


Title: LUAT SO SANH<phan1>


in_my_heart - June 20, 2008 07:10 AM (GMT)
BÀI 1: KHÁI NIỆM VỀ LUẬT SO SÁNH



1.1. TÊN MÔN HỌC

1.1.1. Luật so sánh

Luật so sánh là một môn khoa học nghiên cứu và so sánh hệ thống pháp luật ở các nước nhằm t́m ra nét tương đồng và khác biệt điển h́nh giữa chúng trên cơ sở đó góp phần tạo thuận lợi cho sự tương đồng hệ thống pháp luật quốc gia so với pháp luật của các nước và quốc tế từ đó góp phần hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật

1.1.2. Một số điều lưu ư

- Tên gọi của môn học là Luật so sánh hay luật đối chiếu

- Luật so sánh không phải là một ngành luật thực định v́ ṇ không chứa các quy định của pháp luật như pháp luật thực định (không quy định vấn đề ǵ, không có đối tượng điều chỉnh) mà Luật so sánh đi nghiên cứu những cái quy định để t́m ra những tri thức khoa học

- Mục đích của Luật so sánh là t́m ra những nết tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới và giải tại sao có sự tương đồng và khác biệt đó hay nói cách khác là t́m ra nguyên nhân của chúng từ đó đưa ra các giải pháp pháp lư tối ưu hay chỉ ra hạt nhân pháp lư tối ưu (giải pháp lư quốc gia nào là hợp lư nhất) và cuối cùng là phân nhóm luật của nước nào giống nước nào th́ ta phân thành một nhóm và khác nhau ta phân thành một nhóm(ví dụ: nhóm châu âu lục địa, nhóm anh mỹ, nhóm XHCN)

1.1.3. Một số vấn đề lưu ư về việc đánh gia sự tương đồng và khác biệt giữa các hệ thống pháp luật trên thế giới

- Tương đồng và khác biệt là hai mặt của 1 vấn đề nghĩa là chúng ta tiếp cận một vấn đề sẻ có hai khả năng xảy hoặc tương đồng hoặc khác biệt hoặc là cả hai đều chịu tác động của một nhóm yếu tố

Ví dụ: Sự tương đồng trong hệ thống kinh tế => sự giống nhau giữa các hệ thống pháp luật tương ứng và ngược lại.

- Dừ là tương đồng hay khác biệt th́ các hiện tượng pháp lư đều chịu sự tác động của một nhóm yếu tố giống nhau cho dù theo những hướng trái ngược nhau.

Tương đồng



(1 nhóm yếu tố =>1 vấn đề)



khác biệt

Ví dụ: Sự tương đồng trong hệ thống kinh tế sẽ => sự giống nhau giữa các hệ thống pháp luật tương ứng và sự khác biệt trong hệ thống kinh tế sẽ góp phần tạo nên sự khác nhau trong lĩnh vực pháp luật.

- Trong các tường hợp cụ thể th́ quá tŕnh so sánh luật có thể tập trung một khía cạnh nhất định hoặc chúng ta tập trung chỉ ra những nét tương đồng hoặc chỉ tập trung chỉ ra những nét khác biệt. Ví dụ khi so sánh hệ thống pháp luật Anh và Mỹ th́ chúng ta nên so sánh những điểm khác biệt và t́m ra nguyên nhân của sự khác biệt nó thú vị hơn là so sánh những đặc điểm tương đồng v́ hai hệ thống này coa nhiều đặc điểm giống nhau (có thể giải thích về sự giống nhau là do lịch sử, địa lư, kinh tế, thể chế chính trị)

- Những yếu tố nào được coi là cớ liên quan và có vai tṛ quyết định đối với sự h́nh thành của hệ thống pháp luật tất nhiên phụ thuộc chủ yếu vào các giá trị hệ tư tưởng và các quan điểm khác của người so sánh.

Ví dụ: Các nhà so sánh luật dưới góc độ quan điểm triết học Mác – Lê nin th́ so sánh luật dựa trên cơ cấu kinh tế, các nhà so sánh luật dưới góc đọ tôn giáo th́ so sánh luật dựa trên giáo lư, quan điểm tôn giáo

1.1.4. một số vấn đề cần lưu ư về việc đánh giá các hạt nhân giải pháp chung

- Các giải pháp pháp lư được so sánh phải có cùng chức năng, nghĩa là cùng điều chỉnh các t́nh huống và các vấn đề tương tự.

(cần phải xem xét các giải pháp pháp lư đó có cùng mục đích hay không bởi v́ có hai khả năng xảy ra:

+ Có cùng một mục đích nhưng có nhiều giải pháp khác nhau. Ví dụ mục đích giảm dân số

+ Có nhiều giải pháp pháp lư khác nhau được sử dụng trong cùng một mục đích ).

Ví dụ khi so sánh pháp luật về nạo thai ở hai nước nếu đạo luật này có mục tiêu hoàn toàn trái ngược nhau nh́n từ góc độ pháp lư, ta không thể kết luận quy định nào tốt hơn: ở nước này th́ mong muốn giảm sự bùng nổ dân số, ở nước khác lại muốn tăng tỷ lệ sinh.

- Có những trường hợp giải pháp pháp lư đó có hiệu quả ở quốc gia này nhưng có khi không phát huy được ở các quốc gia khác. Ví dụ ở những nước có nền kinh tế khác hoặc khác về tôn giáo chính thống và các giá trị đạo đức. Luật về tăng tuổi kết hôn tối thiểu sẽ không đạt được mục tiêu làm giảm sự bùng nổ dân số nếu quan hệ trước hôn nhân và trẻ em ngoài giá thú về mặt xă hội vẫn đựpc dân chúng chấp nhận.

- Tùy góc độ, giá trị và mục đích mà tiêu chí đánh giá tính hợp lư của giải pháp pháp lư là khác nhau dẫn đến => phụ thuộc vào ư chí chủ quan của nhà nghiên cứu.

Ví dụ: ở Việt Nam, việc đăng kí kết hôn được công nhận ở Ủy ban nhân dân xă, phường…. nhưng một số nước khác th́ hôn nhân được chứng thực tại nhà thờ. Do vậy việc đánh giá giải pháp pháp lư nào tốt hơn là tùy thuộc vào cách nh́n nhận của các nhà làm luật.

1.2. LỊCH SỬ H̀NH THÀNH LUẬT SO SÁNH

1.2.1. Trước năm 1869 (trước thế kỷ 19)

- Luật so sánh xuất hiện từ rất sớm (từ những năm trước công nguyên). Cụ thể :

+ Người ta nghiên cứu hiến pháp các quốc gia khác nhau để lọc ra những thông tin phù hợp nhằm xây dựng hiến pháp cho quốc gia của ḿnh.

Nhà khoa học Aristore nghiên cứu 153 bản hiến pháp của Hi lạp và các quốc gia khác (384 – 322 TCN).

+ Nghiên cứu hiến pháp để soạn thảo luật của nhà nước Athen.

+ quá tŕnh soạn thảo 12 bản của la mă.

- Thời ḱ đế chế La Mă

+ Thời ḱ đế chế La Mă bành trướng lănh thổ: th́ luật La Mă chiếm ưu thế và chi phối dẫn đến quá tŕnh xây dựng pháp luật của các quốc gia lấy luật La Mă làm tiền đề. Do đó, quá tŕnh so sánh luật bị chững lại.

+ Thời ḱ đế chế La Mă sụp đổ: Vị trí độc tôn của luật La Mă không c̣n do nghi thức tôn giáo hay luật của giáo hội đă h́nh thành dẫn đến hoạt động so sánh luật được khôi phục giữa luật La Mă và luật giáo hội.

- Đến thế kỷ 17 -18: Luật so sánh được quan tâm nhiều hơn. Trong thời ḱ này người ta tiến hành so sánh luật quốc gia, luật nước ngoài và luật quốc tế.

+ Ở Anh: Người ta tiến hành so sánh luật giáo hội và luật Commonlaw (thông luật, luật chung).

+ Ở Pháp: So sánh luật tập quán của pháp với luật của Dức. Đặc biệt, là cuốn sách " Tinh thần pháp luật" của Monteckiơ dẫn đến là kết quả của quá tŕnh so sánh đưa ra mô h́nh xây dựng chính phủ tốt nhất

1.2.2. Sau 1869 (sau thế kỷ 19)

- Đây là năm xuất hiện lư luận đầu tiên của luật so sánh mang tên "tạp chí luật so sánh" được xuất bản ở Pháp => đánh dấu bước phát triển về chất của luật so sánh v́ hành động so sánh trước đây tiến hành theo nhu cầu của cuộc sống nhưng bây giờ hoạt động Luật so sánh tiến hành một cách bài bản hơn trên cơ sở lư luận hẳn hoi.

- Đây là năm đầu tiên môn luật so sánh được chính thức đưa vào chương tŕnh giảng dạy và đào tạo luật. Tuy nhiên, trong thời ḱ này hoạt động so sánh luật chỉ tập trung vào luật tư, luật cổ, và văn bản pháp luật (v́ thực hiện trên văn bản) dẫn đến nên thiếu tính thực tiễn , góc nh́n thực tế.

- Đến thế kỷ 20, Hô thống Luật so sánh đạt được mục đích

+ Hài ḥa pháp luật hệ thống pháp luật xích lại (tương đồng).

+ Pháp điển hóa pháp luật: Thống nhất hóa pháp luật.

· Lịch sử h́nh thành hoạt động so sánh luật ở các quốc gia XHCN

- Trước năm1950: Hầu như không có hoạt động so sánh luật

- Sau năm 1950: Hệ thống quốc gia XHCN h́nh thành th́ hoạt động phát triển nhưng chủ yếu ở Liên Xô. Nhưng cũng gặp nhiều hạn chế, v́:

+ Hoạt động Luật so sánh chỉ tiến hành trong khuôn khổ các nước XHCN.

+ Các nhà luật học bây giờ không sẵn sàng tiếp nhận luật pháp bên ngoài (hay ngoại lai).

+ Do các thế bao vây của các thế lực thù địch => không dễ dành tiếp cận pháp luật nước ngoài.

· Lịch sử h́nh thành Luật so sánh ở Việt Nam

- Trước năm 1975: Hoạt động so sánh luật cực ḱ phát triển nhưng ở miền nam Việt Nam. Đặc biệt là sự ra đời của cuốn sách "Một số ứng dụng của Luật so sánh", được xuất bản năm 1965, nói về chức năng, ứng dụng của Luật so sánh (tác giả: Ts Ngô Bá Thanh).

- Sau năm 1975: Hoạt động so sánh luật chững lại, v́:

+ Khoa học Luật pháp lư không phát triển và thiếu vị trí tương xúng trong nền khoa học nước nhà.

+ Pháp luật thực định c̣n thiếu và yếu

+ Bị thế bao vây quan hệ đối ngoại khép kín.

+ Hệ thống thông tin rất khó khăn => nên việc tiếp cận luật nước ngoài hạn chế.

- Từ năm 1986 trở đi: Hoạt động so sánh luật phát triển v́:

+ Khoa học pháp lư đă có vị trí tương xứng trong nền khoa học nước nhà

+ Pháp luật thực định đă tương đối hoàn chỉnh

+ Quan hệ đối ngoại cởi mở

+ Quá tŕnh hội nhập trao đổi thông tin dẫn đến các quốc gia xích lại gần nhau => Nhu cầu tự thân nghiên cứu luật xuất hiện (nhu cầu tự thân của xă hội) => tiến tới một nguyên tắc chung là thống nhất pháp luật (pháp điển hóa pháp luật).

1.3. KHOA HỌC LUẬT SO SÁNH

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu: luật so sánh nghiên cứu:

- Pháp luật nước ngoài

- Pháp luật quốc gia

- Pháp luật quốc tế

- Cơ chế áp dụng pháp luật

- Cơ quan bảo vệ pháp luật (cơ quan tư pháp)

- Nghề luật.

1.3.2. Phương pháp so sánh

· Tính so sánh của vấn đề

Không phải mọi sự vật, hiện tượng đếu có thể đem so sánh mà để việc so sánh có kết quả, hai đối tượng so sánh cần có một điểm chung. Điểm chung này là tiêu chí cần có không chỉ trong so sánh pháp luật mà trong bất cứ loại h́nh so sánh nào.

- Đôi khi tính so sánh của một hiệ tượng pháp lư rât dễ nhận dạng thông qua ngôn ngữ, tên gọi, h́nh thức biểu hiện.

- Đôi khi tính so sánh của các hiện tượng pháp lư rất khó được phát hiện v́ nó không biểu hiện ra bên ngoài mà xét về nội dung quy định của pháp luật.

- Đôi khi h́nh thức biểu hiện ra bên ngoài là giống nhau nhưng không chắc chắn rằng hiện tượng pháp lư để có tính so sánh.

Ví dụ: Khi một vấn đề có tính so sánh th́ mới so sánh được. Người ta muốn so sánh lời văn của quy định trong pháp luật Đức về hôn nhân với quy định dăng kí bất động sản của Thụy Điển. Hai quy định này có thể so sánh cấu trúc của chúng có những điểm chung, cách phân chia đoạn trong luật của Thủy Điển và của Đức. Mặt khác, so sánh chẳng có ư nghĩa ǵ nếu ta so sánh nội dung của hai quy phạm pháp luật này, bởi v́ chỉ cần xem qua ta có thể nhận thấy nội dung của chúng là hoàn toàn khác nhau.

· Phương pháp so sánh : Luật so sánh là một ngành khoa học.

- Phương pháp mô tả và quan sát trực tiếp. Có những nhất định xuất phát từ đối tượng nghiên cứu và phương pháp so sánh.

Đặc trưng, tính chân thật => phải tiến hành quan sát nhiều lần ở nhiều góc độ, mức độ khác nhau.

- Phương pháp so sánh trên cơ sở phân tích, đánh giá các yếu tố tác động đến việc h́nh thành các quy phạm pháp luật.

+Chúng ta dựa vào điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên và các điều kiện xă hội để lư giải.

v Điều kiện kinh tế: Một trong những điều kiện ảnh hưởng rất lớn đến quá tŕnh h́nh thành, phát triển của các quy phạm pháp luật. Các nước có hệ thống kinh tế khác nhau th́ có các quy định khác nhau trong các lĩnh vực kinh tế nhưng nếu các quốc gia có hệ thống kinh tế giông nhau nhưng tŕnh độ phát triển kinh tế khác nhau th́ hệ thông pháp luật có sự khác biệt.

v Điều kiện tự nhiên:

Ví dụ: pháp luật Việt Nam hiện tại và trước đây có sung quy định là miễn giảm thuế cho những vùng thiên tai, dịch họa => do tác động của điều kiện tự nhiên.

v Điều kiện xă hội: Bối cảnh đặc trưng xă hội giống nhau th́ hệ thông pháp luật cũng có nét tương đồng.

Ví dụ: Hiến pháp 1946 có những nét riêng biệt do bối cảnh xă hội lúc đó (mới dành được đc lập).

+ Yếu tố lịch sử:

Lịch sử phát triển của đất nước có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự h́nh thành của hệ thống pháp luật. Đây là yếu tố quan trọng để quá tŕnh h́nh thành những nét tương đồng và khác biệt.

+ Mối quan hệ thuộc về lịch sử

v Hệ thống pháp luật của các quốc gia có mối quan hệ lệ thuộc vào lịch sử =>tương đồng với pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với pháp luật của Pháp (mối quan hệ là VN là thuộc địa của Pháp)

v Hệ thống các quốc gia không có mối qun hệ về mặt lịch sử => khác biệt

+ Yếu tố địa lư: như đất đai, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên…đều có ảnh hưởng đáng kể đế hệ thống pháp luật nước đó.

VD1: Tiêu chuẩn xây dựng công tŕnh kiến trúc ở Nhật Bản là khác so với VN chúng ta. Do Nhật Bản là đất nước thường xuyên xẩy ra động đất nên các tiêu chuẩn phải cao hơn và chặt chẽ hơn

VD2: Thời hạn thêu đất canh tác tối đa theo pháp luật quốc gia Vanniratu tại vùng Nam Thái B́nh Dương là 75 năm không phải là con số tùy tiện mà là có nguyên nhân từ thực tiễn: 75 năm là số tuổi thọ trung b́nh của cây dừa (để cho người thuê trồng được hưởng những tthành quả)

=> đương nhiên yếu tố này không tính đến các nước không trồng dừa (đất đai)

+ Yếu tố lư trí:(ư thức chủ quan của con người)

VD: Những quy định xác định con trong giá thú hay con ngoài giá thú (HNGĐ) => do các nhà làm luật áp đặt ư chí chủ qun của ḿnh.

+ Yếu tố ngẫu nhiên:

v Sở thích cá nhân của con người vĩ đại có quyền lực to lớn có thể ảnh hưởng ảnh hưởng quan trong tới hệ thông. Người ta nói rằng hoàn cảnh gia đ́nh của Napoleong là nguyên nhân ra đời của một số quy định về gia đ́nh của pháp khi bộ luật dân sự của Pháp được thông qua dưới thời của Napoleong.

v Một số đạo luật mang dấu ấn của lạm phát hoặc thông qua vào thời điểm siêu lạm phát, suy thoái, mặc dù người ta có dự định ban hành chúng một cách tạm thời t́nh thế như vậy.

+ Yếu tố xét về mặt ư thức hệ

v Xây dựng trên cùng một nền tảng tư tưởng => hệ thống pháp luật có nét tương đồng. Ví dụ: Hệ thông pháp luật các quốc gia XHCN.

v NHững khác biệt nhỏ trong hệ tư tưởng cũng có thể ảnh hưởng tới hệ thống pháp luật. Ví dụ: Thụy sỹ và Thụy Điển có nhiều điểm tương đồng nhưng chẳng hạn không có cùng quan điểm về vấn đề sự cần thiết của công bằng xă hội và trách nhiệm của nhà nước đối với phúc lợi của từng thành viên trong xă hội và điều này được thể hiện trong chính sách phúc lợi xă hội và luật thuế chẳng hạn.

+ Yếu tố khác: Hệ thống chính trị, tôn giáo, dân số học

- Phương pháp so sánh tương phản và đồng nhất

Tương phản: Chỉ ra những nét khác biệt

Đồng nhất: Chỉ ra những nét tương đồng

=> Đối nghịch nhau

- Phương pháp so sánh song diện và đa diện

Song diện: So sánh giữa hai hiện tượng pháp lư

Đa diện: So sánh một hiện tương pháp lư với nhiều hiện tượng pháp lư khác

- Phương pháp so sánh vi mô và vĩ mô

Vi mô: Chi tiết, cụ thể, tỷ mỉ, giữa QPPL này với QPPL khác

Vĩ mô: Tổng quát giữa QPPL này với QPPL khác

=> Muốn so sánh vĩ mô phải dựa trên so sánh vi mô và ngược lại

- Phương pháp so sánh h́nh thức qua chức năng

So sánh cấu trúc của các quy định pháp luật (h́nh thức)

So sánh về chức năng (nội dung điều chỉnh vấn đề)

1.4. LUẬT SO SÁNH VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU LUẬT NƯỚC NGOÀI

1.4.1. Nguồn thông tin về hệ thống pháp luật nước ngoài

- Rơ ràng điều kiện tiên quyết cơ bản để nghiên cứu pháp luật nước ngoài là khả năng có được những thông tin chính thức, cập nhật các nguồn thông tin đáng tin cậy thông thường tốt nhất là nghiên cứu các bguồng thông tin chính thức như các đạo luật, quy định, báo cáo, án lệ … của đất nước có hệ thống pháp luật cần nghiên cứu.

- Đôi khi việc sử dụng các nguồn thông tin thứ cấp như sách giáo khoa, các sách tham khảo, các bài báo trong các tạp chí… lại có những ưu thế nhất định khi nghiên cứu pháp luật nứpc ngoài.

- Yêu cầu phải có nguồng thông tin cập nhậtcũng không quá khắt khe trong chừng mực nghiên cứu pháp luật nước ngoài chỉ v́ mục đích học tập, ví dụ nghiên cứu để làm bài tập trong khuôn khổ khóa học tại trường đại học.

1.4.2. Giải thích và sử dụng các nguồn lực nước ngoài

- Sử dụng

+ Các luật sư Anh, Mỹ khi nghiên cứu pháp luật châu Âu lục địa, tiếp cận VBPL nhưng vẫn hoài nghi nó chưa được khẳng định xử lư bởi các cơ quan Ṭa án tối cao.

+ Đối với các luật sư châu âu lục địa khi nghiên cứu hệ thống pháp luật Anh – Mỹ th́ chỉ tiếp cận đến các VBPL (đạo luật). Ví dụ: Luật sư Anh khi nghiên cứu luật Thụy Điển có thể có nguy cơ xem nhẹ tầm quan trọng của các dự thảo luật và luật sư Thụy Điển khi nghiên luật của Anh quốc cũng có nguy cơ phải sai lầm theo hướng ngược lại.

+ Quá đề cao đến án lệ hoặc văn bản của các nhà luật học châu âu lục địa, Anh – Mỹ khi tiếp cận đến hệ thống pháp luật => sự thật là trong cả hai hệ thống pháp luật (luật lục địa và pháp luật Anh – Mỹ). Các VBPL và các phán quyết của Ṭa án đều là các nguồn luật cho dù vị trí của chúng có khác nhau.

- Giải thích

+ Các nguồn luật nước ngoài nên được giải thích như chúng được giải thích tại các nước đă sản sinh ra các nguồn luật ấy. Nếu muốn hiểu một cách chính xác ư nghĩa của đạo luật hay phán quyết của Ṭa án nước ngoài th́ không thể giải thích các đạo luật hoặc phán quyết đó theo tinh thần của hệ thống pháp luật của nước ḿnh.

+ Đối với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ có xu hướng giải thích các hệ thống pháp luật căn cứ vào tinh thần của lời văn, c̣n đối với hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa tập trung vào tinh thần của các quy định pháp luật.

1.4.3. Cần thiết phải nghiên cứu luật nước ngoài đặt trong mối quan hệ tổng thể

- Chú ư đến cấu trúc hệ thống pháp luật: Có thể phân chia hệ thống của hệ thống pháp luật nước ngoài hoàn toàn khác với cách phân chia hệ thống pháp luật nước của nhà nghiên cứu. Chẳng hạn, pháp luật của Liên xô và cách đây không lâu, cả pháp luật của Anh trong chừng mực nào đó cũng không có sự phân chia thành luật công và luật tư. Mặt khác, hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa lại không có cách phân chia mà luật của Anh có, như phân chia thành "luật" và "luật công b́nh".

- Chú ư đến khái niệm

- Một yếu tố khác không nên bỏ qua đó là các nhà làm luật nước ngoài thẩm chí ở một đất nước có các ngành luật tương tự như đất nước của người nghiên cứu có thể sẻ chọn phương pháp khác để đạt được mục đích tương tự và điều đó có nghĩa là các quy định pháp luật có liên quan sẽ nằm ở một bộ phận khác trong hệ thống pháp luật.

Ví dụ: Nếu luật gia Thụy Điển quan tâm tới các quy địnhcủa pháp luật về trợ cấp xă hội cho gia đ́nh đông con ở Pháp anh ta không nên tự giới hạn việc nghiên cứu trong các quy định của luật xă hội như ở Thụy Điển (trợ cấp cho trẻ em, trợ cấp nhà…), bởi v́ ở Pháp chính phủ sẻ chia sẻ phần lờn sự trợ giúp tài ch́nh với các gia đ́nh đông con không thông qua h́nh thức trợ cấp xă hội mà thông qua luật thuế dưới h́nh thức giảm một mức thuế đáng kể cho các gia đ́nh nêu trên (Thụy Điển không sử dụng biện pháp này).

=> Có thể khẳng định ta không nên "cắt rời" một chi tiết trong hệ thống pháp luật nước ngoài và chỉ nghiên cứu chi tiết đó mà không tính đến mối quan hệ của chi tiết đó tới các phần c̣n lại của hệ thống pháp luật

1.4.4. Bối cảnh xă hội và mục tiêu của các quy định pháp luật

=> hệ thống pháp luật là hiện tượng xă hội và chỉ thể hiện b́nh diện nhất định của xă hội. V́ vậy, không thể tách rời hệ thống pháp luật và các hệ thống xă hội khác.

- Quan tâm đến mục tiêu của các quy định trong bối cảnh xă hội đó.

Ví dụ: Giả sử nhà nưới ban hành đạo luật yêu cầu các cơ quan thuê mướn nhân công phải có nghĩa vụ chi trả học phí học tiếng cho công nhân nước ngoài mới được tuyển dụng. Xét trên bề mặt, dường như đạo luật này có lợi cho dân nhập cư nhưng thực ra ư đinh và tác dụng của nó lại hạn chế nhập cư bằng cách không khuyến khích các cơ quan sử dụng lao động thuê mướn người nhập cư và bằng cách đó giảm tỉ lệ thất nghiệp của người lao động trong nước. => Luật gia nước ngoài thiếu hiểu biết về bối cảnh của nước này (hiện trạng nền kinh tế, mức độ thất nghiệp, chính sánh nhập cư) dễ có cái nh́n sai lầm về mục đích thực sự của quy định pháp luật nêu trên cũng như tác động thực tế của nó.

- Không phải hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở giống nhau th́ thường tương tự nhau. Các quy định và thiết chế pháp luật giống nhau hoặc tương đồng có thể có những vai tṛ khác nhau trong các xă hộii khác nhau.

Ví dụ: Các nước XHCN trước đây ở Đông âu có đạo luật về bảo vệ nhăn mác thương mại rất phát triển, rất chi tiết cho dù nó không có mục đích thực tiễn v́ ở các nước khi đó không có thị trường cạnh tranh. Tuy vậy, các nước XHCN này do phải tuân thủ các công ước quốc tế mà hộ tham gia nhằm bảo vệ nhăn mác thương mại của chính ḿnh trên thị trường thế giới th́ đă ban hành pháp luật về nhăn mác thương mại.

- Khi nghiên cứu pháp luật nước ngoài th́ chúng ta phải nghiên cứu các hiện tượng phạm vi pháp lư (văn hoa, lịch sử, đạo đức…) => Tri thức về các lĩnh vực khác nhau của xă hộii có hệ thống pháp luật cần nghiên cứu có giá trị không chỉ khi chúng ta muốn xem xét chức năng của một số QPPL mà ngay cả khi ta muốn t́m hiểu cách thức xă hội đó giải quyết những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh.

Ví dụ: Tới ngày 1/1/1993, ở Thụy Điển QHPL giữa những người tổ chức du lịch và khách hàng không có quy định pháp luật nào điều chỉnh nhưng trên thực tế các tờ quảng cáo hoặc trong các băn bản hợp đồng th́ các tổ chức đều viện dẫn đến "các quy định chung về du lịch" do tổ chức thương mại của các nhà tổ chức du lịch phối hợp với tổ chức thanh tra khách hàng ban hành.

1.4.5. Vấn đề dịch thuật ngữ

- Khi dịch thuật ngữ th́ phải dựa trên quan điểm pháp luật của nước sở tại.

- Đôi khi sẽ cảm thấy khó khăn khi từ ngữ th́ giống nhau nhưng cách hiểu th́ khác nhau và đôi khi từ ngữ sử dụng trong nhiều hệ thống pháp luật là khác nhau nhưng cách hiểu là giống nhau.

1.4.6. Tính hiện thực và khả thi của hệ thống pháp luật

1.4.7. Xác định phạm vi pháp luật hiện hành

- Đối với một số hệ thống pháp luật thế giới th́ pháp luật không dừng lại văn bản mà c̣n thể hiện ở phong tục, tập quán, tôn giáo…

- Một hiện tượng thường xẩy ra đối với hầu hết các hệ thống pháp luật là một số quy định pháp luật sẽ trở thành lỗi thời, nghĩa là cho dù các quy định ấy có thể về mặt chính thức vẫn c̣n hiệu lực nhưng trên thực tế người ta đă không c̣n áp dụng chúng nữa.

- Một số quy định ở các hệ thống pháp luật dù có ư nghĩa trên giấy tờ c̣n khả năng thi hành của nó th́ không có.

1.4.8. Hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới luôn luôn có điểm tương đồng

Điều đó nói lên rằng trong ḷng xă hội sự khác biệt của pháp luật không phải cách xa nhau mà có nhiều điểm tương đồng, tương tự nhau.



BÀI 2: GIÁ TRỊ CỦA LUẬT SO SÁNH



2.1. TRANG BỊ NHỮNG KIẾN THỨC VỀ NỀN TẢNGVĂN HÓA CHUNG, ĐẶC BIỆT LÀ NỀN TẢNG KHOA HỌC PHÁP LƯ

Luật so sánh giúp cho các luật sư có kiến thức toàn diện, đó là những khả nưng tố chất của một con người trong môi trường hiện đại.

- Năng lực dự kiến (độ nhạy cảm, khả năng phán đoán)

- Sẳn sàng làm việc ở những môi trường làm việc mới mẻ, xa lạ do ngành luật so sánh nâng cao kiến thức và hiểu biết về văn hóa khác nhau v́ so sánh luật là hoạt động trí tuệ hữu ích và lư thú, nó khuyến khích việc học và sử dụng ngoại ngữ.

2.2. Hiểu rỏ hơn hệ thống pháp luật của quốc gia ḿnh

- Có những thiết chế pháp luật tưởng rằng đương nhiên có trong hệ thống pháp luậtquốc gia ḿnh nhưng có những thiết chế pháp luật tồn tại trong hệ thống pháp luật quốc gia này mà không tồn tại trong hệ thống pháp luật quốc gia khác.

-Ví dụ: Một công dân Mỹ nghĩ rằng quốc gia nào cũng có chế định về luật công ty nhưng nhưng họ đi sang các nước khác th́ không có

- Khi nghiên cứu các hệ thống pháp luật nước ngoài th́ chúng ta có thể biết những chế định tồn tại của quốc gia ḿnh có nguồn gốc từ nước ngoàivà ngược lại.

Ví dụ: Nhiều quy định trong BLDS 2005 của chúng ta có nguồn từ BLDS Napoleon ở Pháp.

2.3. Giá trị của Luật so sánh đối với quá tŕnh hoàn thành hệ thống pháp luật

- Trong nhiều trường hợp xây dựng và áp dụng pháp luật một cách bế tắc th́ ta nghiên cứu so sánh luật để học hỏi kinh nghiệm nhằm t́m ra các giải pháp pháp lư tối ưu để đem về ứng dụng.

- Nhà hoạt động so sánh luật mà thay v́ phải dự đoán và có nguy cơ phải chịu những giải pháp kém thích hợp, họ có thể khai thác, tham khảo các kinh nghiệm quư báo, phong phú trong hệ thống pháp luật nước ngoài do vấn đề mà nước khác đă giải quyết. Nbhững kinh nghiệm nào đó có thể học được ở đó có thể t́m thấy những giải pháp đơn giản hơn, ít tốn kém hơn và đă được áp dụng có hiệu quả ở nước ngoài.

Ví dụ: Các quyết định "đùng một cái" chịu nhiều rủi ro chẳng hạn quyết định của Thủ đô Hà Nội cấm một số phương tiện ngoại thành không được đi vào Thủ đô => phản ứng gay gắt của nhân dân (và nó được xóa bỏ ngay).

2.4. Giá trị của Luật so sánh đối với quá tŕnh nhất điển hóa pháp luật

- Hài ḥa hóa là quá tŕnh làm cho các nguyên tắc của hai hay nhiều hệ thống pháp luật trở nên có nhiều điểm tương đồng khi giải quyết cùng nột vấn đề.

- Nhất điển hóa pháp luật là quá tŕnh thống nhất ban hành các nguyên tắc pháp lư tương tự nhau giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật.

Ví dụ: Công ước Warsaw 1929 về thống nhất các quy định về vận chuyển hàng không quốc tế hầu như được tất cả các quốc gia thông qua đă tập hợp được số lượng rất lớn các quyết định tư pháp của nhiều nước có liên quan tới việc giải thích công ước.

2.5. Vai tṛ của Luật so sánh đối với công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế

2.5.1.Giá trị của Luật so sánh đối với công pháp quốc tế

- Luật so sánh cóa giá trị đối với quá t́nh xây dựng điều ước quốc tế ( điều ước song phương hoặc đa phương)

- Luật so sánh có giá trị đối với nguồn của pháp luật quốc tế. Đó là nguồn của điều của điều ước quốc tế, tập quán quốc tếm, luật của các quốc gia trên thế giới.

- Luật so sánh giúp xác định nguyên tắc nào là nguyên tắc pháp lư chung của luật quốc tế.

Ví dụ: Các quốc gia theo nguyên tắc chung của công pháp quốc tế, có nghĩa vụ đối xử đối với công dân nước ngoàitheo chuẩn mực quốc tế tối thiểu phù hợp với các tiêu chuẩn về đạo đức của các gia văn minh => chỉ có sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh các hệ thống pháp luật hiện hành mới có thể xá định các chuẩn mực quốc tế tối thiểu mang tính phổ biến.

2.5.2. Giái trị của Luật so sánh đối với tư pháp quốc tế

- Là lănh vực pháp luật đặc biệt điều chỉnh các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.

Chủ thể của pháp luật dân sự: Cá nhân, pháp nhân. Nếu như có yếu tố nước ngoài th́ quan hệ dân sự không được điều chỉnh bởi pháp luật quốc gia mà bởi tư pháp quốc tế.

- Giải quyết các mâu thuẫn

Ví dụ: Pháp là nơi nhiều nước ngoài gửi tiền nhưng không may xảy ra tranh chấp mà việc giải quyết những tranh chấp đó ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau (xung đột pháp lư). Th́ người ta có sử dụng hai biện pháp: sử dụng xung đột pháp lư hoặc pháp luật thực chất để giải quyết.

+ Xung đột pháp lư: sử dụng các quy phạm xung đột. quy phạm xung đột là quy phạm không quy định quyền và và nghĩa vụ của các bên mà chỉ ra hệ thống pháp luật nào được viện dẫn để giải quyết (quy phạm này cung cấp kiến thức pháp luật của nhiều nước trên thế giới).

+ Pháp luật thực chất: Sử dụng quy phạm thực chất là quy phạm có quy định quyền và nghĩa vụ của các bên cụ thể hoặc các điều ước quốc gia đă thống nhất.

2.6. Giá trị của Luật so sánh với một số ứng dụng khác

- Rèn luyện tŕnh độ, khả năng về ngoại ngữ

- Nghiên cứu mối liên hệ lịch sử giữa các hệ thống pháp luật.




* Hosted for free by zIFBoards